CHẾ ĐỘ ĂN CHO TRẺ SUY DINH DƯỠNG
Lượt xem:
Chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi cơ thể thiếu các chất dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu protein và năng lượng. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, hay gặp nhất là ở lứa tuổi từ 6 – 24 tháng. Suy dinh dưỡng thường kèm theo tình trạng dễ nhiễm khuẩn và ngược lại nhiễm khuẩn làm cho suy dinh dưỡng nặng thêm.
Suy dinh dưỡng thực chất không chỉ là tình trạng thiếu hụt protein và năng lượng mà thường là kết hợp thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng. Trước đây các y văn thường dùng cụm từ “Suy dinh dưỡng protein- năng lượng” (protein- energy malnutrition) để nhấn mạnh vai trò quan trọng của protein và năng lượng trong căn bệnh này. Ngày nay các y văn chỉ còn dùng danh từ “ Suy dinh dưỡng” (Undernutrition) để chỉ tình trạng trẻ em bị chậm phát triển do thiếu dinh dưỡng.
Suy dinh dưỡng đang là vấn đề sức khoẻ quan trọng và phổ biến của trẻ em ở các nước đang phát triển cũng như ở nước ta hiện nay.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO – World Health Organization) có đến 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng ở các nước đang phát triển, gây nên 10 triệu tử vong mỗi năm. Mức giảm suy dinh dưỡng không đều ở các vùng sinh thái khác nhau. Có sự liên quan về mức giảm suy dinh dưỡng và mức giảm hộ nghèo lương thực thực phẩm.
Ở Việt nam từ những thập kỷ 90 trở về trước suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ rất cao, khoảng trên dưới 50% (tính theo cân nặng/tuổi). Suy dinh dưỡng nặng như kwashiorkor, marasmus, marasmic kwashiorkor gặp cũng khá nhiều. Nhưng những năm gần đây tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đã giảm. Năm 2002 tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng của trẻ em toàn quốc là 30,1%, chủ yếu là suy dinh dưỡng nhẹ, vừa, suy dinh dưỡng nặng rất ít gặp. Tỷ lệ này cao hơn so với Thái Lan, Indonesia, Philippine, thấp hơn so với Myanmar, Lào, Cămpuchia, Ấn độ, Bangladesh, Nepal. Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng quốc gia năm 2004 trẻ em suy dinh dưỡng ở nước ta giảm xuống còn 26,6%. Từ năm 2000 – 2004 tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm 1,8%/năm, năm 2007 tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở nước ta còn là 21,2% (cân nặng/tuổi), 34% (chiều cao/tuổi).
Nguyên nhân
Ăn uống:
Chủ yếu là do bà mẹ thiếu kiến thức nuôi con:
Cho ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn, cai sữa sớm dưới 12 tháng đều ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.
Thức ăn sử dụng cho trẻ thường không đảm bảo chất lượng và số lượng theo lứa tuổi.
Nhiễm khuẩn:
Suy dinh dưỡng thờng thấy sau các bệnh nhiễm khuẩn như sởi, viêm phổi, tiêu chảy… mà các bà mẹ không biết cách cho ăn khi trẻ ốm nên dễ bị suy dinh dưỡng.
Những yếu tố thuận lợi:
Cân nặng lúc đẻ thấp < 2500 g.
Đẻ sinh đôi.
Gia đình đông con.
Mẹ chết hoặc ốm yếu.
Mẹ không có sữa hoặc ít sữa.
Dị tật bẩm sinh.
Nhà ở chật chội thiếu ánh sáng.
Phân loại
Có nhiều cách phân loại các mức độ của suy dinh dưỡng như:
Gomez (1956) thang phân loại này ít được sử dụng vì trẻ còn 90% cân nặng so với quần thể tham khảo vẫn có thể phát triển bình thường nhưng lại bị xếp vào suy dinh dưỡng.
Waterlow (1976) dựa vào hai chỉ tiêu: cân nặng so với chiều cao và chiều cao so với tuổi, dựa vào bảng sau:
|
Chiều cao so với tuổi |
Cân nặng so với chiều cao |
|
|
> 80% |
< 80% |
|
|
> 90% |
Bình thường |
Gầy còm |
|
< 90% |
Còi cọc |
Gầy còm + còi cọc |
Thang phân loại của WHO (1981) được dùng thông dụng nhất hiện nay. WHO khuyến nghị coi là suy dinh dưỡng khi cân nặng/ tuổi dưới 2 độ lệch chuẩn (- 2 SD) so với quần thể tham khảo NCHS (National Center for Health Statistics) của Mỹ. Việc sử dụng quần thể tham khảo NCHS được đề nghị sau khi nhận thấy trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng tốt thì phát triển như nhau.
Từ dưới – 2 SD đến – 3 SD: suy dinh dưỡng nhẹ (độ 1).
Từ dưới – 3 SD đến – 4 SD: suy dinh dưỡng vừa (độ 2).
Từ dưới – 4 SD: suy dinh dưỡng nặng (độ 3).
1 SD tương đương với 10% cân nặng.
Ở suy dinh dưỡng nặng người ta dùng thang phân loại của Wellcome 1970 để phân biệt các thể suy dinh dưỡng.
|
Cân nặng % so với chuẩn |
Phù |
|
|
Có |
Không |
|
|
80 – 60 |
Kwashiorkor |
Suy dinh dưỡng |
|
< 60 |
Marasmic Kwashiorkor |
Marasmus |
Biểu hiện lâm sàng
Suy dinh dưỡng bắt đầu từ biểu hiện chậm lớn cho đến các thể nặng là marasmus và kwashiorkor. Trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu, việc nhận biết các thể nhẹ và vừa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Ở các thể nhẹ:
Biểu hiện lâm sàng thường nghèo nàn, chẩn đoán chủ yếu dựa vào các kích thước nhân trắc, như đã trình bày ở phần phân loại.
Ở các thể nặng:
Thể phù (kwashiorkor): cân nặng còn 60 – 80 % mặc dầu có phù. Trẻ phù từ chân rồi đến mắt và có thể phù to toàn thân. Trên da có thể xuất hiện những đám lấm chấm sắc tố màu nâu, sau đó bong ra, dễ bị trợt loét và bị nhiễm khuẩn. Trẻ thờ ơ với ngoại cảnh, hay quấy khóc, ăn kém, ỉa phân sống, lỏng, nhầy mỡ. Thể kwashiorkor ít gặp hơn thể marasmus; thường do chế độ ăn quá nghèo protein còn glucid tạm đủ chế độ ăn bổ sung chủ yếu dựa vào gạo, ngô, khoai, sắn.
Thể gầy đét (marasmus): cân nặng còn < 60% cơ thể gày đét chỉ còn da và xương “Only skin and bones” và trẻ có bộ mặt giống ông già “old man‘s face ”. Đây là thể hay gặp nhất. Đó là hậu quả của chế độ ăn thiếu cả nhiệt lượng và protein hoặc do cai sữa quá sớm, hoặc thức ăn bổ sung không hợp lý; hoặc do tình trạng vệ sinh kém gây tiêu chảy, trẻ ăn càng kém và vòng luẩn quẩn bệnh lý xảy ra.
Tinh thần mệt mỏi, thờ ơ với ngoại cảnh, trẻ có thể thèm ăn hoặc chán ăn, hay bị rối loạn tiêu hoá, ỉa phân sống, lỏng.
Thể phối hợp (marasmus – kwashiorkor): cân nặng < 60%, cơ thể gày đét nhưng lại có phù, thường phù ở hai mu chân, trẻ kém ăn và hay bị rối loạn tiêu hoá.
Ở trẻ thiếu dinh dưỡng protein – năng lượng thường thiếu các chất dinh dưỡng khác như thiếu sắt, magiê, kali, kẽm, các acid béo chưa no, các vitamin và nhiều chất khác. Điều đó làm cho bệnh cảnh lâm sàng của suy dinh dưỡng protein – năng lượng thêm phong phú và đa dạng. Đặc biệt thiếu vitamin A và bệnh khô mắt thường gặp ở trẻ suy dinh dưỡng có thể dẫn tới nhuyễn giác mạc và hỏng mắt. Công trình nghiên cứu của Viện Bảo vệ sức khoẻ trẻ em (1982 – 1990) cho thấy thiếu vitamin A của trẻ suy dinh dưỡng là 16,3%, tỷ lệ mù một hoặc hai mắt chiếm 9,1%. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Chò (1991 – 1992) cho thấy, trẻ suy dinh dưỡng nặng điều trị tại Viện Bảo vệ sức khoẻ trẻ em có biểu hiện thiếu vitamin A khô mắt là 20%, nhuyễn giác mạc cả hai mắt là 1,4%.
Các tổn thương bệnh lý và rối loạn chuyển hoá
Tổn thương bệnh lý:
Gan: ở trẻ kwashiorkor gan thường bị thoái hoá mỡ, tuy nhiên sự thoái hoá này có thể phục hồi nếu được điều trị đúng và kịp thời.
Cơ quan tiêu hoá: các tế bào của tuyến tuỵ và niêm mạc ruột bị teo. Ở trẻ nặng không có trường hợp nào nhung mao nguyên vẹn, hình ảnh tổn thương đa số là teo nhung mao gần hoàn toàn. Hàm lượng các men tiêu hoá giảm gây ảnh hưởng cho việc hấp thu các chất dinh dưỡng. Các biến đổi hình thái và chức năng ống tiêu hoá kèm theo sự tăng sản các loại vi khuẩn là nguyên nhân của tình trạng tiêu chảy hay gặp ở trẻ suy dinh dưỡng.
Hệ thống tim mạch: cơ tim có thể bị teo, cung lượng tim giảm. Ở các trường hợp